Loading...
Skip to main content

Tòa án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm là không có căn cứ pháp luật

(22/02/2024 15:22)

Trong giai đoạn hiện nay, toàn bộ hệ thống các Tòa án trong cả nước không ngừng nổ lực phấn đấu trong công tác, hoàn thành tốt nhiệm vụ xét xử. Tòa án là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, có sứ mệnh bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức và cá nhân trong xã hội, góp phần chung trong tiến trình xây dựng và phát triển đất nước.

Mục tiêu quan trọng nhất của hệ thống Tòa án nói chung và các Thẩm phán nói riêng là phải nâng cao chất lượng xét xử, hạn chế đến mức thấp nhất việc để các vụ án bị hủy, cải sửa theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm do lỗi chủ quan của Thẩm phán.

Tuy nhiên, không phải lúc nào các Bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới (sơ thẩm), bị Tòa án cấp trên (phúc thẩm) hủy, cải sửa đều chính xác, có căn cứ pháp lý; mà ngược lại, có những trường hợp, việc hủy, cải sửa bản án, quyết định của Tòa án cấp trên đối với bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới là không chính xác, thiếu căn cứ pháp lý. Dẫn chứng cho điều này là đã có nhiều vụ án, TAND cấp cao hủy, cải sửa án của TAND các địa phương, nhưng sau đó bị Chánh án TAND tối cao, Viện trưởng VKSND tối cao kháng nghị GĐT theo hướng hủy Bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm, giữ nguyên bản án, quyết định của Tòa án sơ thẩm ban đầu.

Dưới đây là một vụ án cụ thể mà Tòa án cấp phúc thẩm đã sửa án sơ thẩm thiếu căn cứ pháp luật.

1. Tóm tắt nội dung vụ án

Bà Trần Thị Ch có 03 người con: ông Th, bà X và bà A.

Năm 1987, khi Nhà nước yêu cầu đăng ký kê khai nhà đất thì bà Trần Thị Ch đã đăng ký kê khai và có tên trong sổ mục kê và hồ sơ địa chính, thửa đất số 336, tờ bản đồ số 04, diện tích 381m2 tại thị xã QT, tỉnh QT.

Năm 1994, ông Th vào Miền Nam sinh sống.

Năm 1998, bà Trần Thị Ch qua đời, ba anh em ông Th, bà X, bà A có làm một văn bản thỏa thuận thống nhất như sau:

Mẹ chúng tôi đã qua đời do bệnh đột biến từ trần ngày 19-4-1998. Để lại cho ba anh em của chúng tôi một ngôi nhà 2 gian lợp ngói và diện tích viên cư là 54m2, ngôi nhà này là do công lao của mẹ tôi và 3 anh em chúng tôi gây dựng nên. Đông giáp nhà của vợ chồng bà A; Bắc giáp đường Nguyễn Trãi; Tây giáp nhà vợ chồng bà X; Nam giáp nhà Sinh Bình- Hạnh Đào. Sau khi bàn bạc nhất trí ủy quyền cho Nguyễn Thị Minh X, Nguyễn Thị Minh A quản lý để làm nơi thờ phụng tổ tiên ông bà và cũng là nơi để bà con đến hương khói. Không cho bất cứ ai trong giòng tộc được chuyển nhượng, thế chấp, đổi chác, thuê mướn, tặng cho hoặc để ở. Sau này, thế hệ chúng tôi qua đời sẽ bàn giao lại cho thế hệ kế tiếp để tiếp nối phụng thờ”. Văn bản có xác nhận của Ủy ban nhân dân Phường 1, thị xã QT.

Tháng 6/2018, khi về thăm quê, do có sự nghi ngờ về việc sử dụng đất không đúng của những người trong gia đình nên ông Th đã làm các thủ tục xác minh thông tin đối với các thửa đất thì phát hiện thấy rằng: UBND thị xã QT đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSD đất) cho hộ bà A và hộ ông Nguyễn Xuân T (ông T là con trai bà X).

Vì vậy, để có căn cứ cho yêu cầu chia di sản thừa kế mà cụ Ch để lại (nhà gắn liền với đất), ông Th khởi kiện vụ án hành chính, yêu cầu Tòa án tuyên hủy các quyết định hành chính sau đây:

- Hủy Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số Đ 642696 ngày 29/6/2004 và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BL 712883 do UBND thị xã QT cấp đổi ngày 17/10/2013 cho hộ ông Nguyễn Xuân T đối với thửa đất số 22, tờ bản đồ số 11 với diện tích 111m2.

- Hủy Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số Đ 642983 cấp ngày 16/8/2004 và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BL 712833 do UBND thị xã QT cấp đổi ngày 17/10/2013 cho hộ bà A đối với thửa đất số 39, tờ bản đồ số 11 với diện tích 204m2.

Tại văn bản số 309/UBND-TNMT ngày 27/3/2020 của người bị kiện là UBND thị xã QT trình bày:

- Về hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ ông Nguyễn Xuân T:

Năm 2004, hộ ông Nguyễn Xuân T được UBND thị xã QT cấp Giấy CNQSD đất theo Quyết định số 80/QĐ-UBND ngày 29/6/2004, cụ thể thửa đất số 1237, tờ bản đồ số 04, thuộc phường 1, thị xã QT, với diện tích 111m2 đất ở.

Nguồn gốc thửa đất được Hội đồng đăng ký nhà ở, đất ở phường 1 xét duyệt là thừa kế của mẹ Nguyễn Thị Minh X, sử dụng từ năm 1975.

- Về hồ sơ của hộ bà A:

Hộ bà A được UBND thị xã QT cấp giấy CNQSD đất tại Quyết định số 120/QĐ-UBND ngày 16/8/2004. Cụ thể: Thửa đất số 1236, tờ bản đồ số 04, thuộc phường 1, thị xã QT, với diện tích 204m2 đất ở.

Nguồn gốc thửa đất được Hội đồng đăng ký nhà ở, đất ở phường 1 xét duyệt và bà A đã kê khai là do khai hoang sử dụng ổn định từ năm 1975.

Tuy nhiên, qua xác minh hồ sơ cấp Giấy CNQSD đất và Báo cáo số 148/BC-UBND ngày 31/10/2019 của UBND phường 3 thị xã QT, thì UBND thị xã QT nhận thấy việc xác nhận nguồn gốc sử dụng đất cho hai hộ ông Nguyễn Xuân T và hộ bà A là chưa đúng nguồn gốc theo hồ sơ 299 lưu trữ (lập theo Chỉ thị 299/TTG ngày 10/11/1980 về công tác đo đạc, phân hạng và đăng ký ruộng đất trong cả nước) tại Phòng Tài nguyên và môi trường của thị xã QT, cụ thể: Bà Trần Thị Ch (mẹ của: ông Th, bà X, bà A) đã đăng ký và có tên trong sổ đăng ký ruộng đất (hồ sơ 299) tại thửa đất số 336, tờ bản đồ số 04 với diện tích 381m2. Hiện tại thửa đất này đã cấp Giấy CNQSD đất cho hai hộ, hộ ông Nguyễn Xuân T 111m2 và hộ bà A 204m2. Phần diện tích còn lại là 114m2 (theo bản đồ đo đạc năm 2013).

Người bị kiện là UBND thị xã QT thừa nhận việc cấp Giấy CNQSD đất cho hộ bà A và hộ ông T là sai nguồn gốc, đề nghị TAND tỉnh QT chấp nhận đơn khởi kiện của ông Th, hủy hai Giấy CNQSD đất nói trên để làm cơ sở cho việc chia di sản thừa kế tài sản của cụ Ch để lại. Sau khi chia di sản thừa kế thì cơ quan có thẩm quyền sẻ cấp Giấy CNQSD đất theo bản án dân sự đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án (theo Điều 106 Luật đất đai 2013).

Trên cơ sở ý kiến của UBND thị xã QT, hồ sơ địa chính được lưu giữ tại UBND phường 1, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, cũng như ý kiến trình bày của các đương sự, Tòa án cấp sơ thẩm đã đưa vụ án ra xét xử. Và Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 17/2020/HC-ST ngày 30/9/2020, Tòa án nhân dân tỉnh QT đã quyết định: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Th:

- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BL 712883 do UBND thị xã QT cấp đổi ngày 17/10/2013 cho hộ ông Nguyễn Xuân T đối với thửa đất số 22, tờ bản đồ số 11 với diện tích 111m2.

Hủy Quyết định số 80/QĐ-UB ngày 29/6/2004 của UBND thị xã QT về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Xuân T (Đây là Quyết định hành chính có liên quan).

- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BL 712833 do UBND thị xã QT cấp đổi ngày 17/10/2013 cho hộ bà A đối với thửa đất số 39, tờ bản đồ số 11 với diện tích 204m2.

Hủy Quyết định số 120/QĐ-UB ngày 16 tháng 8 năm 2004 của UBND thị xã QT về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà A (Đây là Quyết định hành chính có liên quan).

Sau khi xét xử sơ thẩm, chỉ có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hành chính là bà A làm đơn kháng cáo. Người bị kiện là UBND thị xã QT và người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan ông T không kháng cáo.

Tại Bản án hành chính phúc thẩm số 134/2021/HC-PT ngày 23/3/2021 của Tòa án nhân dân Cấp cao tại ĐN đã chấp nhận kháng cáo của bà A, sửa bản án HCST của TAND tỉnh QT theo hướng: Bác yêu cầu khởi kiện của ông Th.

Những lý do Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm và bác yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện là:

Tại phần nhận định, bản án phúc thẩm nêu: Cụ Nguyễn Tr (chết 1965) và cụ Ch có 03 người con, đó là ông Th, bà X, bà A. Năm 1987, thửa đất được cụ Ch kê khai theo Chỉ thị 299/TTg ngày 10-11-1980 của Chính phủ và được ghi vào sổ đăng ký ruộng đất. Ngày 19-4-1998, cụ Ch chết không để lại di chúc, các con là bà X, bà A vẫn sinh sống trên thửa đất. Riêng ông Th chuyển vào Miền Nam sinh sống khoảng năm 1994. Tại biên bản cuộc họp về việc xét duyệt hồ sơ đăng ký nhà ở, đất ở của bà A, Ủy ban nhân dân Phường 1, thị xã QT xét duyệt ngày 10-6-2004 thể hiện nguồn gốc thửa đất bà A ghi khai hoang sử dụng ổn định từ năm 1979 là không chính xác. Tuy nhiên, việc sai sót này không làm thay đổi bản chất sự việc khi bà A là một trong những người thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng của cụ Ch. Đồng thời, bà A đứng tên trong GCNQSD đất để thực hiện quyền và nghĩa vụ (đóng thuế hàng năm) của người đang sử dụng đất đối với Nhà nước. Như vậy, UBND thị xã QT ban hành quyết định số 120/QĐ-UB ngày 16-8-2004 và cấp đổi GCNQSD đất cho hộ bà A năm 2013 là đúng pháp luật”.

Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm căn cứ vào văn bản thỏa thuận năm 1998 giữa ba anh em ông Th, bà X, bà A để khẳng định tài sản của bà Ch để lại chỉ có 54m2 đất gắn liền với ngôi nhà đang thờ phụng bà Ch. Không bao gồm phần đất mà bà A và ông T đã kê khai để được cấp GCNQSD đất (là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính).

2. Ý kiến bình luận của tác giả:

Chúng tôi nhận thấy, việc Tòa án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm là không có căn cứ, chưa có sự phân biệt rạch ròi giữa hai phương thức tố tụng, đó là tố tụng dân sự và tố tụng hành chính, bởi các lý do sau:

Trước hết phải khẳng định, đây là một vụ án hành chính về “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, đối tượng khởi kiện là các Giấy CNQSD đất đã cấp cho hộ bà A và hộ ông T (con bà X). Vì không phải là vụ án dân sự về tranh chấp thừa kế tài sản nên Tòa án chưa phải xác định di sản thừa kế, thời điểm mở thừa kế và hàng thừa kế của bà Ch.

Bản án HCPT (Hành chính phúc thẩm) đã khẳng định bà A kê khai để cấp GCNQSD đất là không chính xác nhưng lại cho rằng UBND thị xã QT ban hành quyết định số 120/QĐ-UB ngày 16-8-2004 và cấp GCNQSDĐ cho hộ bà A là đúng pháp luật. Nhận định của Tòa án cấp phúc thẩm là mâu thuẫn, lập luận tương tự như một vụ án dân sự. Bởi vì các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như ý kiến của UBND thị xã QT, khẳng định được rằng: nhà và đất của cụ Ch để lại chưa được chia di sản thừa kế nhưng ông T và bà A đã kê khai đất không đúng nguồn gốc để được cấp GCNQSD đất.

Mặt khác, Bản án HCPT lại căn cứ vào văn bản thỏa thuận ủy quyền được lập giữa ba anh em ông Th, bà X và bà A, có xác nhận của Ủy ban nhân dân Phường 1, thị xã QT ngày 08-6-1998 để nhận định: “Hiện tại ông Th đang quản lý ngôi nhà thờ 54m2- đây là di sản của cụ Ch để lại chưa phân chia nên các đương sự có quyền khởi kiện chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật nếu có yêu cầu”. Có nghĩa là Tòa án cấp phúc thẩm xác định tài sản của bà Ch để lại chỉ có ngôi nhà thờ với 54m2 đất, còn phần đất 111m2 đã cấp cho hộ ông T và phần đất 204m2 đất đã cấp cho hộ bà A là không phải tài sản của bà Ch để lại. Nhận định này là không có cơ sở, không phù hợp với những chứng cứ mà Tòa án đã thu thập được.

Thửa đất 381m2 có nguồn gốc là của bà Trần Thị Ch để lại. Diện tích đất này chưa được phân chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật dân sự, hộ ông T và hộ bà A đã kê khai không đúng nguồn gốc để được cấp GCNQSD đất, làm ảnh hưởng quyền và lợi ích của những người trong hàng thừa kế thứ nhất của bà Trần Thị Ch (cụ thể là quyền lợi của ông Th).

Cần lưu ý rằng: Khi giải quyết một vụ án hành chính, Tòa án phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả việc tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Ki