Loading...
Skip to main content

Một số vướng mắc khi áp dụng điều 34 BLTTDS và những đề xuất, kiến nghị

(04/11/2021 07:52)

Thực tiễn xét xử cho thấy, các Tòa án địa phương còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc khi xét xử các vụ án dân sự (chủ yếu là các tranh chấp về đất đai) mà đương sự trong vụ án có yêu cầu hủy Quyết định cá biệt (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Mặc dù Tòa án nhân dân tối cao đã có nhiều hướng dẫn liên quan đến nội dung này nhưng cũng chưa giải quyết hết được những vấn đề đặt ra, vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, mà chủ yếu là xoay quanh vấn đề thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện hay Tòa án nhân dân cấp tỉnh.

Trong phạm vi bài viết này, tác giả sẽ phân tích, luận giải các vấn đề còn vướng mắc trong thực tiễn dựa trên các căn cứ pháp luật, các hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao; Qua đó đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm đi đến cách hiểu và áp dụng pháp luật được thống nhất và hiệu quả.

Cụ thể gồm các nội dung sau:

Vấn đề thứ nhât:

Trong vụ việc dân sự, nếu có đương sự yêu cầu hủy quyết định cá biệt thì có xem đây là một yêu cầu trong vụ án hay không?.

Quan điểm thứ nhất cho rằng, phải xem đó là một yêu cầu của đương sự; nếu là nguyên đơn thì được xem là một yêu cầu khởi kiện; nếu là bị đơn thì được xem là yêu cầu phản tố và nếu là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì được xem là yêu cầu độc lập (Nhiều Tòa án địa phương đã thông báo cho đương sự nộp tiền tạm ứng án phí vì cho rằng đó là yêu cầu phản tố của bị đơn, hoặc yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan).

Quan điểm thứ hai (cũng là quan điểm của tác giả) cho rằng: Đây không được xem là một yêu cầu của đương sự. Bởi các lẽ sau:

Trước hết, chúng ta hãy nghiên cứu những quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề này.

Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 (tại Điều 12) quy định về Thẩm quyền của Toà án đối với quyết định của cơ quan, tổ chức khác như sau: “Khi xét xử vụ án dân sự, Toà án có quyền huỷ quyết định rõ ràng trái pháp luật của cơ quan, tổ chức khác xâm phạm quyền lợi hợp pháp của đương sự trong vụ án mà Toà án có nhiệm vụ giải quyết”.

Thông qua công tác xét xử của ngành Tòa án trong một thời gian dài cho thấy, quy định tại Điều 12 của Pháp lệnh năm 1989 ít khi được áp dụng. Chính vì vậy, đến khi xây dựng và ban hành Bộ luật tố tụng dân sự 2004 thì quy định này đã bị bãi bỏ.

Tuy nhiên, qua thực tiễn xét xử và áp dụng BLTTDS năm 2004, ngành Tòa án (hệ thống Tòa án) còn gặp nhiều vướng mắc khi giải quyết vụ, việc dân sự có liên quan đến các quyết định cá biệt trái pháp luật. Vì vậy, khi sửa đổi, bổ sung BLTTDS 2004 (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 3 năm 2011- Viết tắt là BLTTDS sửa đổi, bổ sung năm 2011) đã quy định bổ sung thêm Điều 32a.

Điều 32a của BLTTDS (sửa đổi, bổ sung năm 2011) quy định: 

“1. Khi giải quyết vụ việc dân sự, Toà án có quyền hủy quyết định cá biệt rõ ràng trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đó xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự mà Toà án có nhiệm vụ giải quyết. Trong trường hợp này, cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đó có quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng.

2. Trường hợp vụ việc dân sự có liên quan đến quyết định cá biệt bị yêu cầu hủy quy định tại khoản 1 Điều này, thì quyết định cá biệt đó được Toà án xem xét trong cùng vụ việc dân sự. Thẩm quyền của cấp Toà án giải quyết vụ việc dân sự đó được xác định theo quy định tại Điều 29 và Điều 30 của Luật tố tụng hành chính. 

3. Toà án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành Điều này”.

Để áp dụng thống nhất quy định tại Điều 32a BLTTDS, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp đã ban hành Thông tư liên tịch số 01/2014/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/1/2014 (Viết tắt là TTTL số 01/2014) hướng dẫn thi hành Điều 32a của BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS 2011.

Tại Điều 2 của TTLT số 01/2014 đã xác định quyết định cá biệt rõ ràng trái pháp luật như sau:

“1. Quyết định cá biệt rõ ràng trái pháp luật có thể bị Tòa án xem xét hủy khi giải quyết vụ việc dân sự nếu có đủ các điều kiện sau đây:

a) Quyết định cá biệt là quyết định hành chính được quy định tại khoản 1 Điều 28 Luật Tố tụng hành chính và hướng dẫn tại điểm a và b khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29 tháng 7 năm 2011 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Tố tụng hành chính.

b) Quyết định cá biệt được ban hành không đúng thẩm quyền, thủ tục, nội dung do pháp luật quy định, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự mà Tòa án đang có nhiệm vụ giải quyết.

2. Tòa án xem xét hủy quyết định cá biệt rõ ràng trái pháp luật khi đương sự có yêu cầu bằng văn bản hoặc trình bày yêu cầu tại Tòa án trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự”.

Thực tiễn áp dụng điều 32a của BLTTDS còn gặp nhiều điểm hạn chế, ví dụ: (1) Chỉ khi “có yêu cầu của đương sự” Tòa án mới được thụ lý, giải quyết, xem xét việc hủy quyết định cá biệt trong vụ án dân sự; (2) Theo hướng dẫn tại Điều 3 của Thông tư liên tịch số 01/2014 thì yêu cầu hủy quyết định cá biệt của đương sự có thể được đưa ra ở bất cứ thời điểm nào trong giai đoạn xét xử sơ thẩm; (3) Tòa án xem xét hủy quyết định cá biệt với điều kiện quyết định đó phải “rõ ràng trái pháp luật”, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự mà Toà án đang thụ lý, giải quyết.

Những hạn chế nêu trên dẫn đến vấn đề là, khi giải quyết các vụ việc dân sự liên quan đến quyết định cá biệt rõ ràng trái pháp luật, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, nhưng do đương sự không có yêu cầu hủy quyết định cá biệt đó nên Tòa án không có thẩm quyền xem xét giải quyết trong cùng vụ việc dân sự; hoặc là tại phiên tòa đương sự mới có yêu cầu hủy quyết định cá biệt thì Thẩm phán giải quyết vụ án phải hoãn phiên tòa, sau đó mới tiến hành nghiên cứu, thực hiện các biện pháp thu thập tài liệu, chứng cứ cần thiết để xác định quyết định cá biệt đó có “rõ ràng trái pháp luật” hay không để xem xét thụ lý giải quyết.

Để khắc phục những hạn chế nêu trên, BLTTDS 2015, được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 25/11/2015 đã có quy định cụ thể vấn đề này. Tại Điều 34 của BLTTDS về thẩm quyền của Tòa án đối với quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức đã quy định: 

“1. Khi giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án có quyền hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự mà Tòa án có nhiệm vụ giải quyết. 

2. Quyết định cá biệt quy định tại khoản 1 Điều này là quyết định đã được ban hành về một vấn đề cụ thể và được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể. Trường hợp vụ việc dân sự có liên quan đến quyết định này thì phải được Tòa án xem xét trong cùng một vụ việc dân sự đó. 

3. Khi xem xét hủy quyết định quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án phải đưa cơ quan tổ chức hoặc người có thẩm quyền đã ban hành quyết định tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền đã ban hành quyết định phải tham gia tố tụng và trình bày ý kiến của mình về quyết định cá biệt bị Tòa án xem xét hủy. 

4. Thẩm quyền của cấp Tòa án giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp có xem xét hủy quyết định cá biệt quy định tại khoản 1 Điều này được xác định theo quy định tương ứng của Luật tố tụng hành chính về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án nhân dân cấp tỉnh”.

Như vậy, so với Điều 32a của BLTTDS (sửa đổi, bổ sung năm 2011) thì Điều 34 của BLTTDS năm 2015 đã có sự thay đổi về nội dung, cụ thể: Khoản 1 của Điều 34 đã thay cụm từ “quyết định cá biệt rõ ràng trái pháp luật” thành cụm từ “quyết định cá biệt trái pháp luật”; khoản 2 của Điều 34 đã bỏ cụm từ “quyết định cá biệt bị yêu cầu hủy” mà bổ sung cụm từ “phải được Tòa án xem xét trong cùng một vụ việc dân sự đó”. 

Với việc quy định tại Điều 34, từ ngày BLTTDS năm 2015 có hiệu lực pháp luật thì Tòa án có thẩm quyền xem xét hủy quyết định cá biệt trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự mà không cần phải có yêu cầu của đương sự, đây cũng là nhiệm vụ bắt buộc của Tòa án để đảm bảo giải quyết vụ việc dân sự được triệt để. Và thủ tục xem xét hủy quyết định cá biệt này là theo các quy định của BLTTDS chứ không phải Luật tố tụng hành chính (ngoại trừ việc xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án đối với quyết định cá biệt); quy định này cho thấy rằng, “việc dựa vào yêu cầu hủy quyết định cá biệt của đương sự là vụ án hành chính chứ không phải vụ án dân sự”. Trong giải quyết vụ án dân sự thì dù có yêu cầu hay không có yêu cầu hủy quyết định cá biệt của đương sự thì Tòa án cũng phải xem xét.

Vì vậy, có thể kết luận, việc đương sự yêu cầu hủy quyết định cá biệt không phải là căn cứ để Tòa án thụ lý (thành một yêu cầu) trong vụ án dân sự, mà Tòa án chỉ xem xét việc hủy quyết định cá biệt nếu có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Khi đó, Tòa án sẽ đưa cơ quan, tổ chức, người ban hành quyết định cá biệt vào tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách “người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”.

Vấn đề thứ hai:

Có phải bất cứ vụ án dân sự về “tranh chấp đất đai” nào, nếu có đương sự yêu cầu hủy quyết định cá biệt (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất - GCNQSD đất) thì Tòa án cấp huyện phải chuyển hồ sơ vụ án lên Tòa án cấp tỉnh để giải quyết theo thẩm quyền hay không?, trường hợp nào thì không chuyển hồ sơ vụ án, trường hợp nào thì phải chuyển hồ sơ vụ án theo thẩm quyền?

Vấn đề này hiện nay có hai quan điểm như sau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Khi giải quyết các vụ án dân sự về “tranh chấp đất đai”, hể có yêu cầu hủy quyết định cá biệt (GCNQSD đất, quyết định cấp đất, giao đất...) thì Tòa án cấp huyện đang thụ lý giải quyết vụ án dân sự phải chuyển hồ sơ lên Tòa án cấp tỉnh để giải quyết theo thẩm quyền mà không cần phải xem xét quyết định cá biệt đó có “trái pháp luật” hay không?.

Quan điểm thứ hai (cũng là quan điểm của tác giả) cho rằng: Không phải khi nào Tòa án cấp huyện đều phải chuyển hồ sơ lên Tòa án cấp tỉnh để giải quyết theo thẩm quyền, mà tùy từng trường hợp cụ thể. Bởi các lý do sau:

Tại Giải đáp số 02/GĐ-TANDTC ngày 19/9/2016 của TANDTC (Viết tắt là Giải đáp số 02/GĐ-TANDTC) đã hướng dẫn như sau:

“Theo quy định tại Điều 34 BLTTDS thì chỉ có những văn bản là quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự mà Tòa án có nhiệm vụ giải quyết mới bị Tòa án xem xét hủy.

Khi giải quyết vụ việc dân sự có liên quan đến quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức thì Tòa án phải xem xét, đánh giá về tính hợp pháp của quyết định cá biệt đó.

Trường hợp quyết định cá biệt rõ ràng trái pháp luật xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và phải hủy quyết định đó mới bảo đảm giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự mà việc hủy quyết định đó không làm thay đổi thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự thì Tòa án đang giải quyết vụ việc dân sự tiếp tục giải quyết và xem xét hủy quyết định đó.

Trường hợp việc xem xét hủy quyết định đó dẫn đến thay đổi thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự xác định theo quy định tương ứng của Luật tố tụng hành chính về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh thì Tòa án nhân dân cấp huyện đang thụ lý giải quyết vụ việc dân sự phải chuyển vụ việc cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết và xem xét hủy quyết định đó.

Trường hợp khi giải quyết vụ việc dân sự có liên quan đến quyết định cá biệt nhưng không cần thiết phải hủy quyết định cá biệt đó và việc không hủy quyết định đó vẫn đảm bảo giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự thì Tòa án đang giải quyết vụ việc dân sự tiếp tục giải quyết (Tòa án cấp huyện vẫn tiếp tục giải quyết vụ án dân sự)”.

Như vậy, theo hướng dẫn thì không phải bất cứ vụ án dân sự về “tranh chấp đất đai” nào, nếu có đương sự yêu cầu hủy quyết định cá biệt (GCNQSD đất) thì Tòa án cấp huyện đều phải chuyển hồ sơ vụ án lên Tòa án cấp tỉnh để giải quyết theo thẩm quyền, mà phải tùy vào các trường hợp sau:

- Trường hợp quyết định cá biệt rõ ràng trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và phải hủy quyết định đó mới bảo đảm giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự mà việc hủy quyết định đó dẫn đến thay đổi thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự xác định theo quy định tương ứng của Luật tố tụng hành chính về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh thì Tòa án nhân dân cấp huyện đang thụ lý giải quyết vụ việc dân sự phải chuyển vụ việc cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết và xem xét hủy quyết định đó;

- Trường hợp khi giải quyết vụ việc dân sự có liên quan đến quyết định cá biệt nhưng không cần thiết phải hủy quyết định cá biệt đó và việc không hủy quyết định đó vẫn đảm bảo giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự (có thể đương sự có yêu cầu hoặc không có yêu cầu hủy) thì Tòa án đang giải quyết vụ việc dân sự tiếp tục giải quyết (Tòa án cấp huyện vẫn tiếp tục giải quyết vụ án dân sự)”.

Từ những phân tích trên, có thể kết luận: Yêu cầu của đương sự về việc hủy quyết định cá biệt trong vụ việc dân sự không phải là căn cứ để chuyển thẩm quyền giải quyết vụ án cho Tòa án cấp tỉnh. Khi Tòa án cấp huyện đáng thụ lý, giải quyết vụ việc dân sự, cho dù có hay không có yêu cầu hủy quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền thì Tòa án không được chuyển hồ sơ vụ án lên Tòa án cấp tỉnh, mà cần tiếp tục giải quyết vụ việc dân sự; trong quá trình thu thập, đánh giá chứng cứ, nếu có cơ sở xác định “quyết định cá biệt trái pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự” thì mới chuyển hồ sơ lên Tòa án cấp tỉnh có thẩm quyền để giải quyết; nếu không có căn cứ xác định quyết định cá biệt đó là “trái pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự” thì Tòa án cấp huyện tiếp tục giải quyết vụ việc dân sự theo thẩm quyền. Điều này sẽ tránh được những hạn chế sau:

Thứ nhất, có thể nhận thấy, các đương sự trong các vụ án dân sự về “tranh chấp quyền sử dụng đất” thường có yêu cầu hủy GCNQSD đất đã cấp cho phía bên tranh chấp vì những lý do khác nhau. Gặp những trường hợp này, nhiều Tòa án cấp huyện đã ra quyết định chuyển hồ sơ vụ án lên Tòa án cấp tỉnh. Thậm chí nếu đương sự không biết, không nêu ra yêu cầu (hoặc ý kiến) đề nghị hủy GCNQSD đất thì có Thẩm phán còn “hướng dẫn” cho đương sự đưa ra yêu cầu (hoặc ý kiến) đề nghị hủy GCNQSD đất để lấy lý do chuyển hồ sơ vụ án lên Tòa án tỉnh. Điều này sẽ dẫn đến tình trạng: (1) Các vụ án dân sự cứ có liên quan đến GCNQSD đất là Tòa án cấp huyện chuyển hồ sơ vụ án lên Tòa án cấp tỉnh để giải quyết theo thủ tục sơ thẩm. Hệ quả là: Tòa án cấp tỉnh thì phải giải quyết quá nhiều vụ án dân sự theo trình tự sơ thẩm, các Tòa án cấp cao phải giải quyết quá nhiều vụ án dân sự theo trình tự phúc thẩm; (2) Đồng thời, khi giải quyết vụ án, Tòa án đưa cơ quan cấp GCNQSD đất (UBND cấp có thẩm quyền) vào tham gia tố tụng với tư cách “người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”; Hệ quả là: UBND cấp có thẩm quyền cấp GCNQSDĐ cũng phải tham gia tố tụng quá nhiều với tư cách “người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”, điều này ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động của quản lý Nhà nước của UBND các cấp (Vấn đề này đã được đề cập tại Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cao).

Thứ hai, tránh được tình trạng “lách thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính”, nghĩa là, đối với yêu cầu hủy quyết định hành chính, theo quy định của Luật tố tụng hành chính hiện nay thì thời hiệu khởi kiện là một năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính (Điều 116 Luật Tố tụng hành chính năm 2015); nhiều trường hợp đương sự khởi kiện vụ án hành chính nhưng bị hết thời hiệu khởi kiện, sau đó đương sự khởi kiện vụ án dân sự và yêu cầu Tòa án hủy quyết định hành chính cá biệt.

Vấn đề thứ ba:

Tại giai đoạn xét xử vụ việc dân sự tại Tòa án cấp huyện, khi có yêu cầu hủy quyết định hành chính cá biệt (Hoặc có ý kiến cho rằng quyết định cá biệt là trái pháp luật) thì Tòa án cấp huyện có thẩm quyền xem xét, đánh giá tính hợp pháp của quyết định hành chính cá biệt đó hay không? (Xem xét ban đầu để quyết định có chuyển hồ sơ vụ án lên Tòa án cấp tỉnh hay không).

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Tòa án cấp huyện không có thẩm quyền xem xét, đánh giá Quyết định hành chính đó có trái pháp luật hay không?, cho nên nhất thiết phải chuyển hồ sơ lên Tòa án cấp tỉnh. Mặt khác, việc Tòa án cấp huyện vẫn tiếp tục giải quyết vụ án mà không chuyển vụ án lên Tòa án cấp tỉnh (khi xét thấy quyết định cá biệt không trái pháp luật hoặc không cần thiết phải hủy quyết định đó) thì vô hình chung, mặc dù chưa mở phiên tòa xét xử nhưng Tòa án đã biết được quyết định cá biệt đó là không trái pháp luật, điều này đi ngược lại với tinh thần tranh tụng tại phiên tòa, vì thẩm quyền phán quyết vụ án là thuộc về Hội đồng xét xử chứ không phải của Thẩm phán trước khi mở phiên tòa.

Quan điểm thứ hai cho rằng (cũng là quan điểm của tác giả): Tòa án cấp huyện (Thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử) có quyền xem xét, đánh giá quyết định hành chính cá biệt đó có trái pháp luật hay không, dựa trên các quy định của pháp luật và theo trình tự, thủ tục mà BLTTDS quy định. Tòa án cấp huyện chỉ không có thẩm quyền xem xét hủy quyết định cá biệt đó theo khoản 4 Điều 34 BLTTDS và Điều 31, 32 của Luật TTHC. Điều này đã được hướng dẫn cụ thể tại Giải đáp số 02/2016/GĐ-TANDTC như đã nêu.

Tuy nhiên, một sai sót lớn mà Tòa án cấp huyện còn gặp phải, dẫn đến Bản án dân sự sơ thẩm (bị kháng cáo, kháng nghị) bị cấp phúc thẩm hủy án, đó là: khi giải quyết vụ án dân sự về “tranh chấp đất đai” (đương sự có yêu cầu hủy GCNQSD đất), Bản án dân sự sơ thẩm đã lập luận là không có căn cứ để hủy GCNQSD đất theo yêu cầu của đương sự và phần Quyết định của Bản án đã tuyên xử “Bác yêu cầu của đương sự về việc yêu cầu hủy GCNQSD đất...”. Việc tuyên trong phần quyết định của bản án như vậy là vượt quá thẩm quyền (Điều 31, 32 Luật TTHC) vì Tòa án cấp huyện không có thẩm quyền để tuyên hủy hay không hủy GCNQSD đất do UBND cấp huyện hoặc cấp tỉnh ban hành. Mặc khác, như đã phân tích ở trên thì yêu cầu hủy GCNQSD đất trong vụ án dân sự không được coi là một yêu cầu nên chỉ cần nhận định trong bản án là “không đủ căn cứ xác định: quyết định cá biệt là trái pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự”.

Vấn đề thứ tư: Khi có vướng mắc về thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự giữa Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp huyện, thì vấn đề được giải quyết như thế nào?

Vướng mắc xảy ra như sau: Trường hợp tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, quan điểm của Hội đồng xét xử là cần phải hủy quyết định hành chính cá biệt thì mới bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự nên đã quyết định chuyển hồ sơ vụ án lên Tòa án cấp tỉnh để giải quyết theo thẩm quyền, tuy nhiên theo quan điểm của Tòa án cấp tỉnh thì quyết định hành chính cá biệt không trái pháp luật, nên không chấp nhận quyết định chuyển hồ sơ vụ án, trả hồ sơ về Tòa án nhân dân cấp huyện để tiếp tục giải quyết (trường hợp này trước đó Thẩm phán Tòa án cấp huyện đã ra quyết định chuyển hồ sơ vụ án lên Tòa án cấp tỉnh rồi nhưng không được chấp nhận, bị trả về để tiếp tục giải quyết), việc chuyển, chuyển trả hồ sơ vụ án như vậy là rất phức tạp, đã gây khó khăn cho đương sự (điều này đã xảy ra nhiều trong thực tiễn), thậm chí dẫn đến vướng mắc về thẩm quyền (Tòa án cấp huyện thì cho rằng: vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp tỉnh, Tòa án cấp tỉnh thì cho rằng: vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện).

Đề xuất hướng giải quyết: Theo quan điểm của chúng tôi, khi Tòa án cấp tỉnh (mà người quyết định là Chánh án) đã xác định quyết định cá biệt không trái pháp luật, Tòa án cấp huyện vẫn phải tiếp tục giải quyết vụ án dân sự thì Thẩm phán cũng như Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm không được ra quyết định chuyển hồ sơ vụ án lần hai, lần ba... mà vẫn tiếp tục giải quyết vụ án dân sự, điều này là phù hợp với quy định tại Điều 41 BLTTDS (giải quyết tranh chấp về thẩm quyền).

Vấn đề thứ năm: Khi nào thì tồn tại hai vụ án dân sự và hành chính độc lập?.

Có nghĩa là đương sự vừa khởi kiện vụ án dân sự về “tranh chấp đất đai” vừa có đương sự có đơn khởi kiện “yêu cầu hủy quyết định cá biệt-GCNQSD đất”. Ví dụ: Nguyên đơn vừa khởi kiện vụ án tranh chấp đất đai vừa có đơn khởi kiện yêu cầu hủy GCNQSD đất; Hoặc Nguyên đơn khởi kiện vụ án tranh chấp đất đai, bị đơn có đơn yêu cầu hủy GCNQSD đất... (Lưu ý là chỉ trong trường hợp chưa có căn cứ xác định quyết định cá biệt trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự).

Để trả lời vấn đề này, chúng ta hãy xem hướng dẫn của TANDTC.

Tại Giải đáp số 02/GĐ-TANDTC ngày 19/9/2018 của TANDTC hướng dẫn:

Ban đầu người khởi kiện yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Khởi kiện vụ án hành chính trước), Tòa án đã thụ lý vụ án hành chính (Tòa án tỉnh thụ lý); sau đó, người khởi kiện bổ sung yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai (Tranh chấp dân sự) có liên quan đến giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đối tượng khởi kiện ban đầu (tại Tòa án tỉnh nơi đang thụ lý vụ án hành chính). Tòa án xử lý trường hợp này như thế nào?

TANDTC hướng dẫn như sau: Trong trường hợp đương sự không rút đơn khởi kiện vụ án hành chính, thì Tòa án căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 141 của Luật Tố tụng hành chính tạm đình chỉ giải quyết vụ án để chờ kết quả giải quyết vụ án dân sự.

Trường hợp xét thấy việc giải quyết tranh chấp đất đai và giải quyết yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất liên quan đến nhau và có thể giải quyết trong cùng một vụ án thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào khoản 1 Điều 34 của Luật Tố tụng hành chính và Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự để giải quyết đồng thời hai yêu cầu của đương sự trong cùng một vụ án theo thủ tục chung do pháp luật tố tụng dân sự quy định”.

Có nghĩa là: Đương sự vừa khởi kiện vụ án hành chính (trước) vừa khởi kiện vụ án dân sự về tranh chấp đất đai (sau), thì sẽ có hai trường hợp xử lý như sau:

Thứ nhất: Trong trường hợp đương sự không rút đơn khởi kiện vụ án hành chính, thì Tòa án căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 141 của Luật Tố tụng hành chính tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính để chờ kết quả giải quyết vụ án dân sự (Đồng nghĩa với việc tồn tại hai vụ án hành chính và dân sự độc lập. Việc giải quyết vụ án dân sự do Tòa án cấp huyện thụ lý giải quyết theo thẩm quyền).

Thứ hai, trường hợp xét thấy việc giải quyết tranh chấp đất đai và giải quyết yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất liên quan đến nhau và có thể giải quyết trong cùng một vụ án thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào khoản 1 Điều 34 của Luật Tố tụng hành chính và Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự để giải quyết đồng thời hai yêu cầu của đương sự trong cùng một vụ án theo thủ tục chung do pháp luật tố tụng dân sự quy định.

Theo chúng tôi thì hướng dẫn trên còn gặp vướng mắc nhất định, vì chưa có quy định của pháp luật về việc nhập vụ án hành chính vào vụ án dân sự để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự. Chỉ có thể ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính, chỉ giải quyết vụ án dân sự đồng thời xem xét việc hủy quyết định cá biệt. Tuy nhiên, không có căn cứ để đình chỉ việc giải quyết vụ án hành chính nếu đương sự không rút đơn khởi kiện.

Từ nội dung hướng dẫn tại Giải đáp 02/2018/TANDTC nói trên, có thể hiểu rằng, nếu ban đầu đương sự khởi kiện vụ án dân sự (về tranh chấp đất đai), sau đó lại có đương sự có đơn khởi kiện vụ án hành chính, yêu cầu hủy GCNQSD đất (Trường hợp này, Tòa án cấp huyện khi thụ lý, giải quyết vụ dân sự đã xác định được là không có căn cứ xác định quyết định cá biệt-GCNQSD đất là rõ ràng trái pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án dân sự, nhưng đương sự trong vụ án nhất quyết yêu cầu hủy GCNQSD đất và đề nghị Tòa án cấp huyện chuyển hồ sơ vụ án lên Tòa án cấp tỉnh theo thẩm quyền; hoặc đương sự có đơn khởi kiện vụ án hành chính cụ thể, yêu cầu hủy GCNQSD đất) thì đơn khởi kiện vụ án hành chính sẽ được Tòa án cấp tỉnh thụ lý giải quyết, còn vụ án dân sự Tòa án cấp huyện vẫn tiếp tục giải quyết bình thường. Trường hợp này là tồn tại hai vụ án hành chính và dân sự độc lập (khởi kiện vụ án dân sự trước, khởi kiện vụ án hành chính sau).

Giải đáp 02/2018/TANDTC hướng dẫn: Trong trường hợp đương sự không rút đơn khởi kiện vụ án hành chính, thì Tòa án căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 141 của Luật Tố tụng hành chính tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính để chờ kết quả giải quyết vụ án dân sự”. Vấn đề này cũng chưa được thống nhất áp dụng, còn có quan điểm khác như sau (cũng là quan điểm của tác giả), cụ thể: Không phải khi nào Tòa án cũng căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 141 của Luật Tố tụng hành chính để tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính, chờ kết quả giải quyết vụ án dân sự, mà phải tùy vào các trường hợp cụ thể, có hai trường hợp như sau:

Trường hợp 1: Nếu vụ án dân sự về tranh chấp đất đai mà đất đó do Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất (tranh chấp về nguồn gốc sử dụng đất) thì mới áp dụng theo Giải đáp 02/2018/TANDTC, căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 141 của Luật Tố tụng hành chính tạm đình chỉ vụ án hành chính để chờ kết quả giải quyết vụ án dân sự;

Lý do: Vì đất của đương sự có nguồn gốc từ trước, Nhà nước chỉ căn cứ vào nguồn gốc sử dụng đất để xét cấp GCNQSD đất, cho nên phải giải quyết về nguồn gốc đất trước.

Trường hợp 2: Ngược lại, nếu vụ án dân sự về tranh chấp đất đai mà đất đó do Nhà nước giao đất (nghĩa là đương sự có được quyền sử dụng đất sau khi được Nhà nước giao đất, ví dụ: thông qua đấu giá QSD đất, thông qua Nhà nước cấp đất tái định cư...) thì căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 214 của BLTTDS, tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự để chờ kết quả giải quyết vụ án hành chính (vụ án hành chính được giải quyết trước).

Trên đây là những vướng mắc khi áp dụng Điều 34 của BLTTDS, tác giả đưa ra theo quan điểm riêng của mình. Mong các đồng nghiệp tham gia trao đổi.

TS: Lê Văn Luật

(Thẩm phán, Giảng viên kiêm chức Học viện Tòa án,

Trưởng phòng nghiệp vụ TAND tỉnh Quảng Trị)


Ý kiến bạn đọc

0 Bình luận

Ý kiến bình luận

Đổi mã xác nhận

Các tin khác

Lượt xem: 9515
cdscv